Hội nam y việt nam

Vietnamese traditional medicine Association

Nam Y

Lịch sử Đông Y

Nền y học dân gian, gia truyền, kinh nghiệm cộng với tổng kết lâm sàng chưa thể nói là Đông Y. Bởi vì y học phương Đông dựa trên nền tảng của một vũ trụ quan triết học, mô phỏng quy luật vận động của vật chất. Đó là quy luật sinh ra, lớn lên, biến hóa và tàn lụi.
Kinh dịch ta biết hiện nay là Chu dịch. Chu dịch lấy quẻ càn, tượng trưng hình trời là quẻ đầu của 64 quẻ dịch. Nội dung dịch lý ấy có thể tóm tắt như sau:
•    Vô cực sinh thái cực (chưa phân âm dương)
•    Thái cực sinh lưỡng nghi (âm – dương)
•    Lưỡng nghi sinh tứ tượng (thái âm thiếu dương và thái dương thiếu âm)
•    Tứ tượng sinh bát quái (càn, đoài, ly, chấn, tốn, khảm, cấn, khôn)
•    Bát quái chuyển động tạo ra 64 trùng quái và biến hóa vô cùng vô tận
Quy luật vận động trên đây thâu tóm mọi hình thức tồn tại vô hình và hữu hình, vô hạn và hữu hạn của vật chất, khi có động thì có biến, biến sinh hoặc biến sát. Biến sinh chưa chắc đã tốt, biến sát chưa chắc đã xấu.
Càn khôn nắm giữ quyền sinh sát (càn khôn là biểu tượng của trời – quẻ càn và đất – quẻ khôn), thuận theo đạo trời thì sống, nghịch với đạo trời thì chết.
Thế kỷ XVII với các cuộc giao thương Âu – Á, kinh dịch đã hấp dẫn các nhà văn hóa nổi tiếng phương Tây nhưu James Legge (Anh), Rhichard Wilhelm (Đức).
Đến nay kinh dịch, một quyển sách cổ của Trung Hoa, là trụ cột trong biện chứng luận trị của y học phương Đông, là tài sản văn hóa của toàn nhân loại mà giá trị của nó chưa được khám phá hết.
Ở các nước phương Tây, kinh dịch được gọi với tên là “Sát biến dịch” (The Book of changes). Quách Mạt Nhược, nhà văn lớn của Trung Hoa đã từng nói: “Chu dịch là một cung điện thần bí”. Mãi đến thế kỷ XX hiện đại, cung điện này vẫn phát tán ra những ánh hào quang thần bí. Phạm vi ứng dụng của Chu dịch rất rộng trong các ngành nông ghiệp, thiên văn địa lý, số học, hóa học, quân sự, ngoại giao, nhân thể học, y học, sinh học, dự đoán học, chọn giống, di truyền, khí công, sử học, truyền tin…
Dựa chắc vào trụ cột là dịch học nhiều ngàn năm, các tác giả, tác phẩm xây dựng nền y khoa phương Đông có thể dẫ đến như:
•    “Hoàng Đế Nội Kinh”, gọi tắt là “Nội Kinh”, là bộ sách lý luận kinh điển đầu tiên của Đông y; bao gồm 2 phần: (1) “Nội Kinh Tố vấn” – gồm 81 thiên, nói về mối quan hệ giữa con người và môi trường; sinh lý; phương pháp chẩn đoán và chữa trị bệnh tật. (2) “Nội Kinh Linh khu” – cũng 81 thiên, tập trung luận thuật về kinh lạc, huyết vị, phương pháp châm cứu, dụng cụ chấm cứu và nguyên tắc trị liệu.
•    Tiếp theo “Nội Kinh”, “Nạn Kinh” cũng là bộ trước tác kinh điển, có giá trị lớn. “Nạn Kinh”do Tần Việt Nhân, hiệu Biển Thước biên soạn. Tần Việt Nhân là người nước Tề, đầu thời Chiến Quốc; chữa bệnh rất giỏi, vang danh khắp nơi. Tương truyền, phương pháp (thiết chẩn) (bắt mạch), cũng như phép “tứ chẩn” – “vọng văn vấn thiết” của Đông y là do Biển Thước sáng lập ra.
•    Trọng Cảnh quê ở Nam Dương ở thời Đông Hán, ông đã viết “Thương hàn luận”  và “ Kim quỹ yếu lược” tổng kết toàn bộ các chứng ngoại cảm và điều trị tạp bệnh.
•    Tôn Tử Mạo (581 – 682 sau CN) là y gia nổi tiếng đời Đường; có tác phẩm “Thiên kim yếu phương”. Ông cho rằng sinh mệnh con người còn quý hơn cả ngàn vàng.
•    Vương Đào (khoảng 670 – 755, đời Đường, Trung Quốc) với tác phẩm “Ngoại đài bí yếu”.
•    Tứ đại y gia thời Kim Nguyên gồm 4 tác giả:
Lưu Hoàn Tố (lập ra Học phái Hà Gian) sáng lập thuyết hỏa nhiệt (Hỏa nhiệt luận); sáng lập “Tỳ vị luận”, chữa bệnh rất coi trong bồi bổ Tỳ vị (Bổ thổ phái); 4. Chu Chấn Hanh (hiệu Đan Khê) lập ra “Tướng hỏa luận”, chữa bệnh rất coi trọng “tư âm giáng hỏa” (Tư âm phái).
Đời Minh (Trung Quốc) các y gia nổi tiếng rất nhiều:
•    Triệu Hiến Khả có cống hiến lớn cho học thuyết “Mệnh môn”; Tác phẩm có “Y quán”, “Kinh lạc thảo”, “Chính mạch luận”…
•    Lý Thời Trân (1518 -1593) là nhà dược học vĩ đại với tác phẩm “Bản thảo cương mục” nổi tiếng khắp thế giới; ông còn nghiên cứu về mạch học và để lại tác phẩm “Tần hồ mạch học” (Tần Hồ là tên hiệu của Lý Thời Trân).
•    Trương Giới Tân, hiệu Cảnh Nhạc (1563 – 1640) là y gia trứ danh đời Minh, nhân vật đại biểu của phái “Ôn bổ”. Ông để lại cho hậu thế các bộ sách “Loại kinh”, “Loại kinh đồ dực”, “Cảnh Nhạc toàn thư”, “Chất nghi lục”…
•    Đời Minh còn có nhiều y gia nổi tiếng khác như Tiết Kỷ (Tiết Lập Trai). Tác phẩm có “Nội khoa trích yếu”, “Ngoại giao khu yếu”, “Nữ khoa toát yếu”…
•    Cuối đời Minh có Lý Trung Tử (Lý Sĩ Tài); với tác phẩm “Nội kinh tri yếu”, “Y tông tất độc”, “Thương hàn quát yếu”…
Như vậy tương đương với nhà Trần của ta ở Việt Nam là triều Nguyễn và Triều Minh ở Trung Quốc. Tác phẩm, tác giả về y khoa rất phong phú và đa dạng. Đồng hành với Trung Y, có các nước trong cộng đồng phương Đông như Triều Tiên, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam.
Tại Việt Nam có hai tác giả lớn đã có trước tác đóng góp vào kho tàng y khoa phương Đông là Đại danh y Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác
Hà Thu
 

Để lại một bình luận

Thông tin phản hồi (0)